Thông tin khoa học về các thành phần của Cotripro Gel

Cotripro là gel bôi trĩ chính hãng của Việt Nam, với thành phần được nghiên cứu và chuyển giao từ Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Bài viết này sẽ cung cấp cho các bạn những thông tin khoa học về các thành phần cấu tạo nên Gel bôi trĩ Cotripro.

Cơ chế hoạt động: 1

Cotripro với thành phần được nghiên cứu và chuyển giao từ INPC

Thành phần Cotripro Gel gồm có

Thông tin khoa học về các thành phần của Cotripro Gel 2

Purified water, Hydroxyethyl Acrylate and Sodium Acryloydimethyl Taurate Copolymer, Artemisia vulgaris extract (cao Ngải cứu), Pluchea indica extract (cao Cúc tần), Piper lolot extract (cao lá Lốt), Ficus glomerata extract (cao lá Sung), Glycerin, PEG-40 hydrogenated castor oil, Phenoxyethanol, Polycrylate crosspolymer-6, Curcuma longa extract (tinh chất Nghệ), Polyacrylate crosspolymer-11.

1. Ngải cứu

1. Ngải cứu 1

Ngải cứu hay còn gọi là ngải diệp, thuốc cứu, có tên khoa học là Artemisia vulgaris, thuộc họ cúc, Arteraceae.

Thành phần hóa học chính trong cây là tinh dầu với hàm lượng 0,20- 0,34%.

Ngải cứu đã được chứng minh nhiều tác dụng dược lý như giảm đau, kháng khuẩn, xua đuổi côn trùng… và đặc biệt là tác dụng trên mạch máu của ngải cứu. Nhóm tác giả Việt Nam hợp tác với nước ngoài đã nghiên cứu về tác dụng của ngải cứu trên mạch máu, theo đó, ngải cứu vừa có tác dụng gây co mạch, vừa có tác dụng gây giãn mạch ở các điều kiện khác nhau. Trong điều kiện mạch máu đang chịu kích thích co mạch, ngải cứu có tác dụng làm giãn mạch và ngược lại, khi mạch máu đang trong điều kiện thư giãn, ngải cứu lại kích thích gây co mạch. Tác dụng trên của ngải cứu thông qua ảnh hưởng lên kênh calci. (và receptor 5-HT).

Ngải cứu (có thể do 5-HT có trong cây) gây co mạch theo cơ chế:

Làm mở kênh calci trên màng tế bào, do đó Ca sẽ di chuyển từ ngoài tế bào vào trong tế bào nội mô, đồng thời tác động đến receptor ryanolin làm tăng giải phóng calci tự do từ các bọc dự trữ. Hai tác động đồng thời này làm tăng nồng độ calci tự do bên trong tế bào nội mô mạch máu, làm co mạch.

1. Ngải cứu 2

Kết quả nghiên cứu về tác dụng của 5-HT và phản ứng co mạch trên động mạch vành của chuột.

Đối với bệnh trĩ, các búi trĩ đang ở điều kiện giãn quá mức, ngải cứu có thể phát huy tác dụng gây co mạch, giúp cải thiện phần nào triệu chứng chảy máu.

2. Cúc tần

2. Cúc tần 1

Cúc tần hay còn có tên khác là từ bi, cây lức, cây phật phà, cây vật và, có tên khoa học là Pluchea indica L. Less thuộc họ Cúc, Asteraceae.

Cúc tần có vị ngọt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng giải cảm, tán phong nhiệt, giáng hỏa, tiêu độc.

Theo tài liệu nước ngoài, cúc tần còn có khả năng làm săn se, hạ sốt. Cúc tần được sử dụng trong điều trị trĩ trong dân gian ở một số nước như Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia từ lâu đời.

Thành phần hóa học chính trong cúc tần có acid chlorogenic, sesquiterpenoids, monoterpen, triterpenoid, favonoids.

2. Cúc tần 2

Dẫn xuất acetate tự nhiên được phân lập từ Cúc tần làm giảm đáng kể việc giải phóng các cytokine tiền viêm

Cúc tần được chứng minh có nhiều tác dụng dược lý như chống viêm, chống oxy hóa, chống loét, kháng khuẩn, hạ sốt, giảm đau. Trong đó, chống viêm là tác dụng nổi bật nhất có ở hầu hết các loài trong chi cúc tần. Dịch chiết lá và rễ cúc tần đều đã được chứng minh tác dụng chống viêm. Trong đó, cúc tần có tác dụng chống viêm cấp tính mạnh, tác dụng chống viêm mạn tính yếu hơn so với tác dụng cấp. Neolupenol trong cúc tần khi dùng liều 100mg/kg cân nặng được chứng minh có  tác dụng chống viêm mạnh hơn so với ibuprofen 50mg/kg (ức chế 70% diện tích viêm da so với 65%).

Cơ chế chống viêm của cúc tần do ức chế sản xuất NO, prostaglandin E2 (2 trong số các chất trung gian hóa học của quá trình viêm, đặc biệt là viêm cấp). Dịch chiết cúc tần đã được chứng minh khả năng chống viêm trong mô hình gây viêm cấp bằng carrageenan trên chuột.

3. Lá lốt

3. Lá lốt 1

Lá lốt hay còn gọi là tất bát, có tên khoa học là Piper lolot, thuộc họ Hồ tiêu, Piperaceae. Thành phần hóa học chính trong lá lốt là tinh dầu và alkaloid. Trong đó, piperin và piperidin là 2 alkaloid thể hiện hoạt tính sinh học chính trong cây.

Lá lốt mọc hoang và được trồng phổ biến ở nhiều nước Đông Á và trở thành gia vị quen thuộc. Ngoài ra, lá lốt còn là vị thuốc có nhiều tác dụng dược lý và được sử dụng làm thuốc khá phổ biến ở nhiều nước như Ấn Độ, Thái Lan.

Theo Đông y, lá lốt có vị đắng, hơi cay, tính ấm, có tác dụng ôn trung, tán hàn, chỉ thống (giảm đau). Y học cổ truyền sử dụng lá lốt trong nhiều trường hợp, như thuốc uống trị các bệnh đường tiêu hóa, đau xương khớp, thuốc đắp trị viêm da, bỏng…

Lá lốt đã được chứng minh có nhiều tác dụng dược lý phù hợp với kinh nghiệm sử dụng trong dân gian. Lá lốt đã được chứng minh tác dụng chống viêm, kháng khuẩn rõ rệt trên động vật. Một số chủng vi khuẩn bị ức chế như Staphylococcus, Streptococcus, Shamonella, … (nghiên cứu thực hiện tại Đại học Dược Hà Nội và Viện y học dân tộc). Tác dụng chống viêm của lá lốt do ức chế các cytokin viêm như IL-6, TNF- α, TL-1β. Một nghiên cứu thực hiện năm 2009 bởi một nhóm tác giả Hàn Quốc đã chỉ ra tác dụng chống viêm của piperine ở liều 100mg/kg tương đương với tác dụng của prednisolon 10mg/kg.

Piperine trong lá lốt cũng được chứng minh có tác dụng hiệp đồng với curcumin trong nghệ, làm tăng sinh khả dụng của curcumin, từ đó tăng tác dụng chống viêm, kháng khuẩn rõ rệt.

4. Lá sung

4. Lá sung 1

Sung hay còn gọi là ưu đàm thụ, có tên khoa học là Ficus glomerata (hay Ficus racemosa) Roxb. Var. chittagonga king, thuộc họ dâu tằm, Moraceae.

Thành phần hóa học chính của sung có các flavonoids (kaemferol, rutin… ), triterpenoids, alkaloids, tanin, …

4. Lá sung 2

Hoạt tính kháng khuẩn của chiết xuất etanolic thu được từ Lá sung trong thí nghiệm kháng sinh đo bằng đường kính vùng ức chế.

Sung được sử dụng phổ biến để trị bệnh trong dân gian ở Ấn Độ, hầu hết các bộ phận của sung đều được dùng làm thuốc. Lá sung được sử dụng phổ biến với tác dụng chống viêm, chống loét, kháng khuẩn, hạ đường huyết, sử dụng tốt trong điều trị bệnh lỵ, tiêu chảy. Vỏ cây có tác dụng làm săn se, hạ đường huyết, chống oxy hóa, chống viêm, dùng điều trị bệnh trĩ, tiểu đường, bệnh lỵ. Quả sung có tác dụng săn se. Nhựa mủ sung được dùng trong điều trị bệnh trĩ, lỵ, chữa bỏng…

Các tác dụng dược lý đã được chứng minh của sung phù hợp với nhiều mục đích sử dụng loại cây này trong trị bệnh ở dân gian như chống viêm, chống loét, kháng khuẩn, phục hồi tổn thương.

Nhiều bộ phận của cây sung có tác dụng ức chế các chủng vi khuẩn như S. aureus, E. coli, P. aeruginosa, B. subtilis, …

Lá sung được chứng minh có tác dụng chống viêm trên nhiều mô hình khác nhau, được so sánh với chứng dương phenylbutazol- một thuốc chống viêm thuộc nhóm NSAIDs. Dịch chiết lá, vỏ sung đều đã được chứng minh có tác dụng ức chế COX-1, là một enzym xúc tác tổng hợp prostaglandin- chất hóa học đóng vai trò quan trọng trong phản ứng viêm và cảm giác đau.

5. Nghệ

5. Nghệ 1

Nghệ vàng có tên khoa học là Curcuma longa, thuộc họ gừng, Zingiberaceae.

Thành phần thể hiện tác dụng chính của nghệ là curcumin, một hỗn hợp 3 chất màu có trong thân rễ của cây.

Nghệ vàng được sử dụng rất phổ biến với nhiều mục đích khác nhau như làm gia vị, bôi ngoài trị mụn nhọt, uống kèm mật ong điều trị loét dạ dày, tá tràng…

5. Nghệ 2

Hình ảnh các cytokin viêm

Nghệ đã được chứng minh nhiều tác dụng dược lý, trong đó nổi bật nhất là tác dụng chống viêm, chống oxy hóa. Tác dụng chống viêm của nghệ có nhiều cơ chế khác nhau như ức chế enzym COX (enzym xúc tác tổng hợp các chất trung gian hóa học tham gia quá trình viêm), ức chế biểu hiện của các cytokin viêm như IL -6, IL-12, TNF- α (các phân tử truyền tin, có vai trò quan trọng trong việc khởi động và khuếch đại phản ứng viêm), giảm biểu hiện của các yếu tố tổng hợp protein viêm trong nhân tế bào… Theo lý thuyết hiện đại, có rất nhiều bệnh mạn tính có biểu hiện viêm, các gốc tự do cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành nhiều bệnh, do đó, các tác dụng của nghệ vàng có tác dụng bảo vệ trước nhiều nguy cơ bệnh tật khác nhau.

Curcumin trong nghệ có sinh khả dụng thấp, tuy nhiên khi kết hợp với piperine (có trong một số cây họ hồ tiêu, trong đó có lá lốt) có thể tăng sinh khả dụng lên 2000%. Sự kết hợp này mang lại khả năng chống viêm cho tổn thương trĩ. Cùng với tác dụng chống viêm cấp của cúc tần, nghệ mang lại tác dụng chống viêm mạn tính, sẽ ức chế viêm, loét và ngăn chặn tổn tái phát viêm nhiễm trong tổn thương trĩ.

Tài liệu tham khảo

  1. Đỗ Tất Lợi, Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nhà xuất bản Hồng Đức
  2. Đỗ Huy Bích, Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập II, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
  3. Trương Đình Xuân Tịnh, Đại học Đà Nẵng, ‘Nghiên cứu chiết tách xác định thành phần hóa học trong dịch chiết lá lốt ở huyện Hòa Vang, Đà Nẵng’.
  4. Ahmed, Faiyaz, and Asna Urooj. “Traditional uses, medicinal properties, and phytopharmacology of Ficus racemosa: A review.” Pharmaceutical biology6 (2010): 672-681.
  5. Ahemd, Sayed A., and Emadeldin M. Kamel. “Phenolic constituents and biological activity of the genus pluchea.” Der Pharma Chemica5 (2013): 109-114.
  6. Buapool, Doungnapa, et al. “Molecular mechanism of anti-inflammatory activity of Pluchea indica leaves in macrophages RAW 264.7 and its action in animal models ofinflammation.” Journal of ethnopharmacology2 (2013): 495-504.
  7. Chainani-Wu, Nita. “Safety and anti-inflammatory activity of curcumin: a component of tumeric (Curcuma longa).” The Journal of Alternative & Complementary Medicine1 (2003): 161-168.
  8. Deep, Prakash, et al. “Pharmacological potentials of Ficus racemosa—a review.” International Journal of Pharmaceutical Sciences Review and Research1 (2013): 29-34.
  9. Eshwarappa, Ravi Shankara Birur, et al. “Antioxidant activities of ficus glomerata (moraceae) leaf gall extracts.” Pharmacognosy research1 (2015): 114.
  10. Goyal, P. K., and R. R. Aggarwal. “A Review on Phytochemical and Biological Investigation of Plant Genus Pluchea.” Indo American Journal of Pharm Research4 (2013): 3000-7.
  11. Hussain, Hidayat, et al. “The genus Pluchea: phytochemistry, traditional uses, and biological activities.” Chemistry & biodiversity11 (2013): 1944-1971.
  12. Martha Perez Gutierrez, Rosa, Adriana Maria Neira Gonzalez, and Carlos Hoyo-Vadillo. “Alkaloids from piper: a review of its phytochemistry and pharmacology.” Mini reviews in medicinal chemistry2 (2013): 163-193.
  13. Normala, H., and M. I. Suhaimi. “Quantification of total phenolics in different parts of Pluchea indica (Less) ethanolic and water extracts.” Pertanika J. Sci. & Technol1 (2011): 19-24.
  14. Paarakh, Padmaa M. “Ficus racemosa Linn.–an overview.” (2009).
  15. Sciberras, Joseph N., et al. “The effect of turmeric (Curcumin) supplementation on cytokine and inflammatory marker responses following 2 hours of endurance cycling.” Journal of the International Society of Sports Nutrition1 (2015): 5.
  16. Suriyaphan, O. “Nutrition, health benefits and applications of Pluchea indica (L.) Less leaves.” Mahidol University Journal of Pharmaceutical Sciences4 (2014): 1-10.
  17. Srisook, Klaokwan, et al. “Antioxidant and anti-inflammatory activities of hot water extract from Pluchea indica Less. herbal tea.” Journal of Medicinal Plants Research23 (2012): 4077-408.
  18. Yadav, Rajnish Kumar, et al. “Phytochemistry, pharmacology, toxicology, and clinical trial of Ficus racemosa.” Pharmacognosy reviews17 (2015): 73.
  19. Zhang, Jian-Ping, et al. “Gleditsia species: an ethnomedical, phytochemical and pharmacological review.” Journal of ethnopharmacology178 (2016): 155-171.

Theo Cotripro.vn

Tư vấn trực tuyến

Chuyên gia Thu Hiền

Nhắn tin ngay

Nhận tư vấn

Chuyên gia Bích Phượng

Nhắn tin ngay

Nhận tư vấn

Chuyên gia Phương Anh

Nhắn tin ngay

Nhận tư vấn

Gửi câu hỏi cho chuyên gia